THỌ TRÌ LUẬT NGHI SƠ TÂM
Biên soạn và phiên dịch: Sakya Minh-Quang
Biên soạn và phiên dịch: Sakya Minh-Quang
Lời Đầu Sách Luật Nghi Sơ Tâm
Duyên khởi biên soạn
Luật Nghi Sơ Tâm được biên soạn, phiên dịch, thi kệ hóa và bổ túc từ bốn bộ luật căn bản chữ Hán, gồm năm phần thọ trì đọc tụng: (1) Luật Học Sa-di, (2) Oai Nghi Xuất Gia, ( 3) Thi Kệ Tỳ-ni Nhật Dụng, (4) Sơ Tâm Cảnh Sách và (5) Quy Sơn Cảnh Sách. Vì mục đích thọ trì đọc tụng, nên Luật Nghi Sơ Tâm được biên soạn, phiên dịch bằng văn vần hay thi kệ hóa ý nghĩa luật nghi giúp người đọc dễ nhớ, dễ đọc. Trước đây, người sơ tâm xuất gia học thuộc lòng bốn bộ luật bằng chữ Hán, dù không hiểu hết ngữ nghĩa, mục đích là để thọ giới tỳ-kheo. Khi thọ giới xong lại không còn học nữa vì cho rằng đây là luật nghi chỉ dành cho sa-di. Quyển Luật Nghi Sơ Tâm bằng thi kệ Việt ngữ ra đời để bổ cứu cho tình trạng này. Đây chính là tâm nguyện và tâm huyết nhiều năm giảng dạy giới luật của bút giả.
Theo người viết, nhờ học và hành trì những bộ luật căn bản trong giáo dục thiền môn từ những ngày sơ phát tâm xuất gia, đã giúp hình thành nên Tăng cách của người tu cho đến trọn đời. Vì vậy, thọ trì đọc tụng, thường xuyên quán chiếu lại mình để tinh tấn tu hành là việc làm suốt đời của người tu. Người xuất gia không phải chỉ học lúc còn là sa-di để thọ giới tỳ-kheo, khi thọ giới xong lại không còn quan tâm học giới, hay thọ trì đọc tụng những luật nghi căn bản này nữa.
Trong thiền môn có những vị tỳ-kheo nhiều hạ, nhưng thiếu oai nghi, giới hạnh là do coi thường hay bỏ qua phần huấn luyện giới luật căn bản này. Vì vậy, trong Sa-di Luật Nghi Yếu Lược, Ngài Liên Trì (1535-1615) bảo: “Người ngu mờ mịt không biết, kẻ cuồng bỏ qua không chịu học, liền nghĩ vượt bậc, ý vọng tưởng cao xa, thật đáng cảm khái biết bao!” (Ngu giả mang hồ bất tri, cuồng giả hốt nhi bất học, tiện nghĩ liệp đẳng, võng ý cao viễn, diệc khả khái hỷ.) Nên biết rằng, nhà cao ba tầng không những bắt đầu từ nền móng, mà còn không thể xa rời nền móng để tồn tại. Cũng vậy, những giới luật căn bản này là nền tảng tu hành trọn đời của người xuất gia mà không phải chỉ cần thiết lúc sa-di. Sự thiếu sót này một phần do nơi quan niệm đây là “luật tiểu”. Có người giải thích “luật tiểu” là luật chỉ dùng dạy cho các chú tiểu hay sa-di giới nhỏ, mà không phải dành cho những người đã thọ giới lớn (đại giới hay tỳ-kheo giới). Điều này có phần đúng trong thực tế, nhưng không phải hoàn toàn như vậy. Nên biết những luật nghi này là nền tảng để thành tựu giới định tuệ, là thềm thang bước lên giới tỳ-kheo và Bồ-tát, là giới luật căn bản của sự nghiệp giác ngộ, giải thoát. Bất cứ vị tỳ-kheo Bồ-tát giới nào cũng phải hành trì. Nếu bảo đây là “luật tiểu”, chỉ dành cho các chú tiểu hay sa-di sẽ đưa đến ý tưởng coi thường giới luật căn bản này. Vì vậy, khi một ai đó đã thọ giới tỳ-kheo liền bảo mình không cần phải học hỏi, ôn tập và hành trì những luật nghi này!
Chư tiền bối gọi là luật “tiểu” có lẽ lấy từ ý “thiết yếu” của Tỳ-ni Nhật Dụng Thiết Yếu, hay “yếu lược” của Sa-di Luật Nghi Yếu Lược. Đây là nói luật nghi này tóm tắt những điều thiết yếu rút ra từ trong Luật tạng. Cho nên, trong Sa-di Luật Nghi Yếu Lược, Ngài Liên Trì bảo: “Nếu thích xem rộng, tự mình nên đọc tất cả sách luật trong Luật tạng.” (Nhược nhạo quảng lãm, tự đương duyệt Luật tạng toàn thư.) Vì vậy, bút giả dùng “luật nghi căn bản” thay vì “luật tiểu” như xưa.
Nội dung Luật Nghi Sơ Tâm
Luật Nghi Sơ Tâm gồm năm phần thọ trì đọc tụng: (1) Luật Học Sa-di, (2) Oai Nghi Xuất Gia, ( 3) Thi Kệ Tỳ-ni Nhật Dụng, (4) Sơ Tâm Cảnh Sách và (5) Quy Sơn Cảnh Sách.
Phần thọ trì thứ nhất là Luật Học Sa-di. Phần này được biên soạn theo thể lục bát, gồm ý nghĩa xuất gia và sa-di, mười giới sa-di, ý nghĩa tỳ-kheo, Bồ-tát và năm đức của người xuất gia mà sa-di nên biết. Trên căn bản Phật Pháp Đại Thừa, bút giả đã biên soạn Luật Học Sa-di này. Ví dụ, xuất gia có bốn nghĩa, thay vì ba nghĩa như thường thấy. Ngoài nghĩa (1) xuất thế tục gia, (2) xuất phiền não gia, (3) xuất tam giới gia, còn có (4) phát Bồ-đề tâm là xuất gia. Đây là căn cứ vào kinh Duy-ma-cật. Lại nữa, bút giả cũng đề cập đến tinh thần “ngoài hiện tướng Thanh văn, trong ẩn hạnh Bồ-tát” của Phật Pháp Đại Thừa căn cứ vào kinh Pháp Hoa. Nhất là, năm đức xuất gia xuất xứ từ kinh Chư Đức Phước Điền, nói: Người xuất gia “chí cầu Đại Thừa vì cứu độ người.”
Phần thọ trì thứ hai là Oai Nghi Xuất Gia, gồm “hai mươi oai nghi”, được lược dịch thành thể thơ lục bát từ “hai mươi bốn oai nghi” trong Sa-di Luật Nghi Yếu Lược của Tổ Liên Trì và “hai mươi hai oai nghi” trong Sa-di-ni Luật Nghi Yếu Lược của Luật sư Kiến Nguyệt (1601-1679). Bút giả tham khảo cả hai, rồi châm chước, chọn những oai nghi chính yếu, tóm tắt lại thành “hai mươi oai nghi” chung cho người xuất gia. Ví dụ, trong “hai mươi bốn oai nghi sa-di” không có “kính Tam Bảo đệ nhất”, nhưng trong “hai mươi hai oai nghi sa-di-ni” lại có. Vì vậy, bút giả thêm oai nghi “Kính Tam Bảo”. Lại nữa, những oai nghi không còn trong thực tế cuộc sống hiện nay, như “quây quanh lò để sưới ấm” (vi lư), “khất thực” v.v… cũng được lược qua.
Phần thọ trì thứ ba là Thi Kệ Tỳ-ni Nhật Dụng. Đây chủ yếu là phần dịch thơ của Tỳ-ni Nhật Dụng Thiết Yếu do Luật sư Độc Thể biên tập và thêm vào một số thi kệ của phẩm “Tịnh Hạnh” kinh Hoa Nghiêm. Thực ra, Tỳ-ni Nhật Dụng Thiết Yếu là tóm yếu của bộ Tỳ-ni Nhật Dụng Lục do Luật sư Tánh Kỳ biên tập trước đó nên gọi là “thiết yếu”. Tỳ-ni Nhật Dụng Thiết Yếu chủ yếu trích dùng một số kệ tụng thích hợp cho đời sống xuất gia trong phẩm “Tịnh Hạnh” thứ 11 của kinh Hoa Nghiêm và thêm vào chú ngữ dưới mỗi bài kệ tụng. Phật giáo từ đời Nguyên cho đến đời Thanh Trung Quốc chịu ảnh hưởng Mật giáo sâu rộng vì người Mông Cổ và Mãn Châu làm chủ Trung Nguyên. Vì vậy, việc thêm thần chú vào mỗi bài kệ tụng Hoa Nghiêm là điều dễ hiểu. Ngoài ra, còn có một số bài kệ được trích xuất từ những kinh điển khác, hay được các Tổ sáng tạo thêm vào, thích hợp cho nhu cầu tu học hằng ngày. Bút giả tham khảo lại phẩm “Tịnh Hạnh” trong kinh Hoa Nghiêm, thêm một số bài kệ trong đó, bỏ phần chú ngữ và dịch ý thành thơ lục bát những bài kệ tụng này để thực tập trong đời sống hằng ngày. Tỳ-ni có nghĩa là luật, được dịch âm từ chữ Phạn Vinaya. Luật ở đây được hiểu là Luật nghi Bồ-tát, đặt trên căn bản Bồ-đề tâm. Cho nên, thực hành thi kệ tỳ-ni giúp luôn chánh niệm, tư duy tương ưng Chánh Pháp (như lý tác ý), nuôi dưỡng tâm Bồ-đề và lý tưởng Bồ-tát vì chúng sinh trong việc làm hằng ngày.
Phần thọ trì thứ tư là Sơ Tâm Cảnh Sách. Sơ Tâm Cảnh Sách bao gồm “Lời Răn Để Lại Đệ Tử” của Pháp Sư Đạo An đời Đông Tấn và “Lời Huấn Thị Người Tập Sự Xuất Gia” của Thiền sư Từ Thọ đời Bắc Tống. “Lời Răn Để Lại Đệ Tử” được Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trích dịch ba bài trong chín bài kệ tụng trong “Đạo An Di Giới Cửu Chương”. Bút giả dịch thêm phần văn trường hàng mở đầu của “Đạo An Di Giới Cữu Chương” theo nhịp câu bốn chữ, nhằm thích hợp việc thọ trì đọc tụng. Còn “Lời Huấn Thị Người Tập Sự Xuất Gia” là “Huấn Đồng Hành” của Thiền sư Từ Thọ, gồm hai mươi bài kệ tụng. Bút giả dịch thành thể thất ngôn tứ cú. Vì hai bài tương đối ngắn, bút giả gộp chung thành một nghi thức thọ trì, lấy tên chung là Sơ Tâm Cảnh Sách. Đây là bài cảnh sách thích hợp với căn cơ và trình độ của người tập sự xuất gia, người mới xuất gia, sa-di và tân học tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni. Thực ra, đây là bài cảnh sách bổ túc cho Quy Sơn Cảnh Sách có đối tượng là thiền giả và mang nghĩa lý cao thâm hơn. Phần thọ trì thứ năm là Quy Sơn Cảnh Sách. Đây là viên ngọc quý trong gia tài văn học Phật giáo thiền tông. Bút giả dịch Quy Sơn Cảnh Sách, cố gắng bảo lưu ngữ khí mạnh mẽ, tha thiết của thể văn biền ngẫu từ nguyên tác. Bài cảnh sách này không những có văn phong trác việt, mà còn mang nghĩa lý sâu xa, mục đích cảnh sách, nhắc nhở các thiền giả, tránh mắc thiền bệnh coi thường giáo lý và giới luật. Quy Sơn Cảnh Sách cũng nhắc nhở, răn dạy những người đã thọ giới tỳ-kheo, hay tuổi cao hạ lớn nhưng lại không có nền tảng Phật Pháp và căn bản đạo hạnh. Ngoài ra, “Quy Sơn Cảnh Sách” còn khai thị cốt yếu thiền lý. Vì vậy, Quy Sơn Cảnh Sách không dễ dàng để hàng sơ học tiếp thu. Như vậy, cảnh sách này không thích hợp lắm đối với sa-di, nhưng lại rất cần thiết và quan trọng đối với những hàng tân học tỳ-kheo. Ngay cả những bậc thượng tọa, trưởng lão cũng phải thường lấy đây để soi chiếu lại mình!
Kết luận
Như trên đã nói, quyển Thọ Trì Luật Nghi Sơ Tâm được biên dịch nhằm mục đích giúp người xuất gia học thuộc lòng, thường xuyên thọ trì đọc tụng và ứng dụng trong đời sống hằng ngày. Đây là nền tảng để người xuất gia nhớ giới, ôn giới, giữ giới, nhằm nuôi dưỡng sơ tâm xuất gia cao thượng của mình.
Song song với việc biên dịch quyển Thọ Trì Luật Nghi Sơ Tâm này, bút giả cũng đang soạn các giáo trình giảng dạy tương ứng, như Giáo Trình Luật Nghi Sa-di, Giáo Trình Oai Nghi Xuất Gia, Giáo Trình Thi Kệ Tỳ-ni, Giáo Trình Sơ Tâm Cảnh Sách, Giáo Trình Quy Sơn Cảnh Sách. Nhưng giáo trình này sẽ được sử dụng trong chương trình giảng dạy luật học căn bản của Học Viện Phật Thừa / Budhayana Academy, cũng như giới thiệu đến các Phật Học Viện trong và ngoài nước.
Đây là việc làm mang tính tiên phong, xuất phát từ tâm Bồ-đề và lý tưởng Bồ-tát. Kính mong các bậc thức giả “không vì người mà bỏ lời” (bất dĩ nhân phế ngôn), mà chia sẻ, tùy hỷ công đức, cũng như chung tay phổ biến nhằm góp phần vào sự nghiệp giáo dục Phật giáo, đào tạo Tăng tài ở tương lai. Nếu trong phần soạn dịch này có chỗ nào sai lầm, sơ sót, đó là do lỗi thiếu học kém tu của bút giả. Bút giả xin một mình hoàn toàn chịu trách nhiệm và kính mong các bậc cao minh từ bi chỉ dạy. Còn như việc làm này có chút ít lợi ích, công đức nào, xin thành tâm hồi hướng về pháp giới chúng sinh, cầu nguyện Phật Pháp trường tồn, Tăng đoàn nghiêm tịnh, chúng sinh an lạc.
Cuối cùng, bút giả xin thành kính tri ân tất cả những nhân duyên thù thắng giúp hình thành nên soạn phẩm này. Đó là công ơn Thầy Tổ đã giáo dưỡng bút giả từ lúc sơ phát tâm, các hàng thiện tri thức đã dạy bảo, nâng đỡ và hộ trì mình trên con đường tu học và hoằng Pháp. Nhân dịp xuất bản, bút giả cũng xin bày tỏ lòng tri ân vô hạn đối với Hòa thượng Thích Viên Lý, Viện chủ Chùa Điều Ngự và Chùa Diệu Pháp ở California, Chủ tịch Hội Đồng Điều Hành Tăng Đoàn GHPGVNTN Hải Ngoại đã từ bi hoan hỷ viết lời giới thiệu. Hòa thượng là một bậc lãnh đạo Phật giáo trác việt, có tấm lòng từ bi rộng lớn, có tầm nhìn trí tuệ sâu xa, và có trái tim Bồ-tát hy hiến đời mình vì Phật Pháp và chúng sinh. Một lần nữa, bút giả xin thành kính đảnh lễ, tri ân Hòa thượng và tất cả những bậc thiện tri thức trong đời.
Nam-mô Thường Tri Ân Bồ-tát Ma-ha-tát.
Viết xong ngày 26 tháng 08, 2025
tại Chùa Phước Hòa, Fort Myers, Florida